Chào mừng quý vị đến với Thư viện giáo dục và cuộc sống .
Ba Chàng Rể
Ba Chàng Rể
Hai vợ chồng nhà nọ khá giàu có cũng chỉ sinh được một cô con gái. Cô này có nhan sắc. Có ba chàng trai ngấp nghé làm rể: Một tú tài, một khóa sinh và một nông dân. Chẳng may phú ông qua đời, bà vợ bảo: "Ai làm bài văn tế ông nghe mà cảm động thảm thiết sẽ gả con gái cho".
Tưởng văn chương là nghề múa tay trong bị, chàng tú tài làm một bài văn chữ Hán đối nhau chan chát và đầy điển tích, nhưng mới bắt đầu đọc chữ "duy" đã bị anh chàng nông dân đứng lên cãi: "Duy là giữ lại. Bố chết được chôn cất là hay, tại sao lại bảo giữ lại". Không ngờ bị một anh vô học phá ngang, chàng tú tài bèn bỏ ra về. Đến chàng thứ hai nhờ người gàbài văn tế mở đầu cũng có chữ "duy". Thấy đọc "duy" bị bắt bẻ, anh bèn đọc "di" nhưng lại bị anh nông dân bác: "di" là dời, bố chết chưa được mồ yên mả ấm lại bảo dời đi đâu?". Thẹn quá, anh chàng cũng bỏ luôn. Đến lượt anh nông dân, chẳng tài văn chương giấy má gì cả, đến trước quan tài, quỳ xuống vừa khóc vừa khấn nôm:
Ô hô! Ô hô! Ô hô!
Nhớ ông xưa:
Mình tròn trùng trục, râu dài lê thê
Ăn rồi: phát bờ, dọn khe, đan mủng đan sề
Ru con ẵm cháu, trồng cà dái dê.
Ông bỏ đi mô (đâu)? Ông lại chẳng về.
Nói đến đó, bà vợ người quá cố xúc động quá, khóc sướt mướt. Thế là anh chàng nông dân được làm rể.
Ba Con Quỷ
Ngày xưa, ở một vùng nọ có hai vợ chồng một nhà phú hộ tuổi đã già mới sinh được mụn con gái, nên hết sức chiều chuộng. Cô gái lớn lên hình dung đẹp đẽ ít ai bì kịp, bố mẹ lại càng nâng niu như vàng như ngọc. Họ bỏ tiền ra xây một ngôi lầu cho con ở. Lầu dựng xong, phú hộ lại cho người đi tìm hoa thơm cỏ lạ, trồng trong vườn để con thưởng ngoạn.
Bấy giờ trong đám rừng sâu gần đấy, có ba con cáo sống lâu năm thành quỷ, có phép biến hóa, thường quen thói hại người. Nghe tin có cô gái đẹp cấm cung mà bố mẹ thì đang bỏ tiền ra mua các cây hoa để trồng ở vườn, chúng rắp tâm phá phách, bèn hóa thành một thứ cây có hoa rất lạ. Hoa có ba cánh: Một cánh màu xanh, một cánh màu trắng, một cánh màu đỏ. Một người tiều phu lên rừng hái củi, thấy hoa đẹp chưa từng có, liền bứng lấy đưa về bán cho phú hộ. Thấy cây họ đặc biệt, phú hộ mua ngay rồi đem trồng ở vườn. Tuy hoa rất lạ và trông thật đẹp mắt nhưng cô gái lại tỏ vẻ không thích, vì thế mưu kế của lũ quỷ không thành. Lâu ngày hoa tàn cây héo lũ quỷ sắp sửa bỏ đi nơi khác. Giữa lúc ấy, người phú hộ chặt cây thấy thớ gỗ đẹp, bèn chọn lấy một khúc đẽo thành cái then cửa đem về chốt ở cửa buồng của con gái.
Thế rồi sau đó mấy hôm, một đêm kia trong khi cô gái đang ngủ, thì một con quỷ từ chiếc then cửa bỗng hiện ra, lên giường toan sinh sự với cô. Nhưng cô đã vùng dậy, hết sức chống cự và kêu la inh ỏi. Biết không xong con quỷ liền hớp lấy hồn nàng rồi lại biến vào then cửa. Khi vợ chồng phú hộ và người nhà chạy vào buồng thì thấy cô gái nằm thiêm thiếp trên giường như người đã chết, ngực thoi thóp đập, nhưng lay gọi mãi vẫn không tỉnh. Chưa kịp tìm thầy cứu chữa, thì tối hôm sau, trong khi người cha một mình chăm sóc cho con, con quỷ thứ hai lại hiện ra hớp lấy hồn ông. Tối hôm sau nữa, lại đến lượt một người nhà bị con quỷ thứ ba hớp hồn. Vợ phú ông sợ quá, vội cho người mời thầy phù thủy đến bắt quyết trừ tà. Thầy làm phép trong ba ngày ba đêm thì phú ông và người hầu tỉnh lại. Duy chỉ có cô con gái thì quỷ đầu đàn vẫn không chịu buông tha. Thầy tuy đã cao tay nhưng quỷ vẫn chẳng coi ra mùi gì.
Cuối cùng thầy đành xách gói cáo từ, vì phép thuật đã giở ra hết mà cô gái vẫn ngày đêm nằm trên giường, nửa mê nửa tỉnh. Từ đấy, người ta tin rằng ngôi lầu có quỷ nên khong một ai dám lui tới.
Một buổi chiều nọ, có một thầy tên là Tân đi thi hội, đến đây thì lỡ độ đường. Thấy có ngôi nhà tốt, anh bèn ghé vào xin nghỉ trọ. Người nhà kể lại câu chuyện đã qua và nói.
- Chẳng giấu gì ông, nhà chúang tôi đang bị lũ quỷ quấy nhiễu. Ông nên đi tìm chỗ khác mà trọ, kẻo mang vạ vào thân.
Nghe đoạn, nói vợ chồng phú ông:
- Đã là học trò, đọc sách thánh hiền thì yêu tinh ma quỷ dám đâu trêu ghẹo. Ông bà cứ cho tôi nghỉ lại một đêm. Biết đâu tôi không trừ được nạn cho ông bà.
Vợ chồng phú hộ nghe nói, bèn mở cửa đón khách vào. Ăn xong bữa chiều, Tân khoai thai bước lên lầu. Anh chỉ xin nhà chủ cho mình một ngọn đèn ngồi trước án thư đọc sách, con dao để sẵn bên người. Đến khuya, một con quỷ từ then cửa buồng cô gái hiện ra với dạng mạo một cô gái xinh đẹp. Tân vẫn điềm nhiên đọc sách không nói gì cả cho đến lúc nó biến đi. Lần thứ hai, một con khác tiến vào dưới dạng một người mặt mày hung ác, tóc xõa lưỡi thè chừng một gang. Nó chạm vào người Tân, nhưng anh vẫn thi gan mặc kệ. Đến lượt con thứ ba tức là con quỷ đầu đàn đang hớp hồn cô gái bước vào. Thấy bóng anh học trò, nó vội quay trở ra, chỉ kịp rú lên mấy tiếng: "Có bậc quý nhân...Trốn cả mau!" Tân lần này đã cầm sẵn dao ngồi rình, nhanh như cắt, nhảy đến chém một nhát, con quỷ đứt mất một chân. Tân chạy theo đến cửa buồng cô gái thì thóang thấy cả ba con quỷ chui biến vào then cửa. Anh cầm lấy chân quỷ soi vào đèn xem, thì thấy đấy làmột cái chân con cáo. Vì quỷ đau quá phải buông thả hồn ra nên ngay lúc đó cô gái cũng tỉnh dậy. Tân liền đến gần hỏi chuyện. Biết đó là người đã cứu mình, nàng cúi đầu chào và ngỏ lời cảm ơn. Tân dẫn nàng ra cho vợ chồng phú hộ. Lại đem chân con quỷ cho mọi người xem. Ai nấy đều lắc đầu lè lưỡi phục tài anh học trò.
Sáng hôm sau lúc lên đường, Tân từ chối vàng bạc của hai vợ chồng phú hộ đưa tặng, chỉ xin họ cái then cửa buồng giắt vào thắt lưng. Đi được nửa ngày, anh đã thấy ba con quỷ hiện ra, phủ phục trước mặt, khẩn khoản xin anh làm phúc bỏ lại cái then cửa. Tân cười:
- Không được! Chúng mày có tài phép gì thì cứ giở ra cho hết để tao xem, rồi tao sẽ cho chúng mày vào lửa.
- Xin ngài tha cho chúng tôi.
- Ba con quỷ đáp:
- Chúng tôi xin tặng ngài những vật quý.
- Vật gì đưa ra ngay, nếu không thì đừng có trách!
Con quỷ thứ nhất đưa tặng Tân một cái mặt trời đựng trong túi, dặn rằng ban đêm, hễ rút ra khỏi túi thì trời sẽ sáng như ban ngày, cất vào túi thì trời lại tối sầm như cũ. Con thứ hai tặng một mặt trăng cũng vậy, hễ ban đêm tối tăm rút ra khỏi túi thì không cần đèn đuốc. Còn con thứ ba tặng một con ngựa mỗi ngày có thể đi ngàn dặm đường. Tân vui lòng nhận lấy những món quà tặng rồi ném cái then cửa vào một bụi rậm bên đường.
Sau đó, tân nhảy lên lưng con ngựa, bảo đưa mình tới kinh đô. Lập tức, ngựa hí lên một tiếng rồi lao rất nhanh, bốn chân không chạm đất. Chỉ một lát sau, ngựa đã đặt anh xuống ở phía ngoài hoàng thành. Tân ở lại đây sắm sửa mọi thứ để dự kỳ thi hội.
Hôm bắt đầu thi, bài của Tân làm rất đắc ý. Cho nên thi vừa xong buổi sáng, anh bỗng nhớ đến vợ. Sẵn con ngựa quý, anh nhảy ngay lên lưng, bảo nó đưa mình về quê nhà. Ngựa phóng tít mù, chỉ vừa chập tối là đến nơi. Anh khe khẽ gọi cửa. Vợ Tân đang ngủ rất kinh ngạc vì thấy chồng mình đi thi chưa được mấy ngày đã vội trở về. Tân không muốn thức cha mẹ dậy nên dặn vợ giấu kín chuyện mình về. Rồi hai vợ chồng nhỏ to trò chuyện cho đến mờ sáng anh mới lên đường. Mặc dầu vậy đêm ấy tiếng chuyện trò rì rầm của đôi vợ chồng đã thức tỉnh cha mẹ Tân nằm ở buồng bên. Hai ông bà không tin là con trai mình đã về, chỉ ngờ rằng nàng dâu có nhân tình nhân ngãi chi đây. Cho nên sáng hôm sau ngủ dậy, lúc đấy Tân đã cưỡi ngựa trở lại kinh đô để kịp nghe loa báo tin, hai ông bà vội vào buồng nàng dâu gạn hỏi. Vợ Tân trước còn giấu quanh, nhưng sau thấy không giấu được nữa, đành phải kể lại câu chuyện chồng về tối hôm qua, cùng những việc chồng mình trị quỷ, và được chúng tặng ngựa quý ra sao v.v... Nhưng bố mẹ chồng làm sao mà tin được một việc khó nghe đến thế, nên trách mắng con dâu thậm tệ. Vợ Tân không biết lấy gì làm chứng, đành chỉ ôm mặt ngồi khóc. May sao chiều hôm ấy Tân lại về. Được tận mắt thấy con trai và con ngựa thần, hai ông bà mới tin là thực. Tân kể chuyện cho bố mẹ và mọi người cùng nghe:
- Sáng hôm nay, ngựa đưa con vào đến kinh đô thì cũng vừa lúc tiếng loa trường thi bắt đầu gọi tên những ai thi đỗ. Nghe loa gọi đến tên con, con mừng rỡ, vội ra nhà trọ thu xếp hành lý, phóng ngựa về đây. Ba ngày nữa con lại trẩy kinh để còn dự yến đêm do đức hoàng đế đãi các ông nghè ở điện thiên Quang.
Nghe nói có con ngựa thần đi một ngày ngàn dặm, người cha ngỏ ý muốn cưỡi thử. Tân hỏi:
- Bố muốn đi chơi đâu bây giờ?
- Bố thường ao ước được vào tận trong Đồng Nai, Gia Định để du ngoạn một phen.
- Được.
Sáng hôm sau, ông già cơm nước xong, nai nịt chỉnh tề bước ra sân. Tân nắm dây cương trao cho cha. Ông già vừa nhảy lên yên, ngựa đã phóng đi vùn vụt, loáng một cái không thấy đâu nữa. Cho đến tận chiều, vào lúc mặt trời gác núi, con ngựa quý lại phóng như bay trở về, đặt ông già xuống giữa sân. Ông vui vẻ mở tay nải lấy quà mời gọi mọi người nếm thử, rồi kể chuyện tai nghe mắt thấy ở Gia Định.
Mẹ Tân nghe chồng hết lời ca tụng con ngựa thần, cũng có ý định muốn đi chơi một chuyến. Qua hôm sau, Tân lại dắt ngựa ra sân rồi đỡ mẹ lên yên. Nhưng ngựa chưa kịp bước ra khỏi cổng, tự nhiên ngã khuỵu, hất bà già ngã lăn xuống đất. Một luồng khói trắng từ trong mình ngựa phóng ra và bay cuộn lên trời. Mọi người xúm lại xem thì con ngựa đã tắt thở từ lúc nào. Thì ra bà mẹ Tân đã cưỡi ngựa thần không đúng lúc vì bà đang thấy kinh nên thần ngựa hoảng sợ, bỏ lốt ngựa mà đi. Thiệt hại xảy ra cho ông tiến sĩ mới cả đơn lẫn kép. Không những mất một tặng vật quý vô giá, ông còn khó thoát tội "khi quân", vì trước mắt không có cách gì đến tiến kinh cho kịp chiều mai dự yến. Đường từ quê Tân đến kinh thành đi bộ mất bốn năm ngày đường, đi ngựa cũng phải hơn hai ngày. Không còn kế gì hơn nữa, Tân đành bắt một con ngựa thường, chẳng kịp từ biệt cha mẹ vợ con, vội ra roi cho con vật phi nước đại.
Con ngựa đi đến tối mịt mà vẫn chưa được một nửa đường. Nằm nghỉ ở quán trọ, Tân lo lắng hết sức. Anh sực nhớ đến món tặng vật "mặt trời" do con quỷ thứ nhất biếu vẫn còn cất trong túi vải. Thế là Tân tìm ra một diệu kế. Ngày hôm sau, tân lại lên ngựa phóng đi. Cho đến khi mặt trời sắp gác núi, anh bèn lôi "mặt trời" của mình ra treo trước đầu ngựa. Thốt nhiên, một chuyện lạ chưa từng có xảy ra: đâu đâu cũng không thấy tắt ánh mặt trời. Cho đến khi con ngựa đưa Tân đến trước điện Thiên Quang, anh mới cất mặt trời vào túi, bấy giờ bầu trời từ ngày mới chuyển sang đêm một cách đột ngột.
Tân buộc ngựa xong, bước vào điện. Nhưng cũng đã muộn mất rồi. Mọi người chờ mãi không thấy đêm xuống, xong thức ăn thì đã nguội cả, nên sau cùng Hoàng Đế đành ra lệnh cho các ông tiến sĩ cứ bốn người một, ngồi vào mâm. Khi Tân bước vào thì tiệc rượu đã hầu tàn. Biết việc chậm trễ có thể khiến mình mất đầu như chơi, nên anh cởi mũ "phủ phục" trước sân điện, một hai biện lý do "không thấy trời tối" để mong được nhẹ tội. Vua tha cho anh, nhưng để anh nhớ lỗi, bắt bổ anh về làm tri huyện một huyện từng nổi tiếng có nhiều án ma. Mặc dầu vẫn nghe nhiều tin đồn rùng rợn rằng từ trước đến nay, hễ quan nào được bổ về huyện ấy đều bị quỷ vật chết, Tân vẫn ung dung về trị nhậm.
Theo tục lệ vùng này, mỗi khi quan mới bổ đến, dân các làng xã đều phải mang lễ vật đến chào quan. Cho nên những ngày Tân mới chân ướt chân ráo đến nơi, dân các làng kéo nhau đội lễ vật đếnđầy cả công đường. Tân tiếp chuyện mọi người rất ân cần nhưng nhất thiết chối từ mọi lễ vật. Chàng kín đáo dặn lính hầu mỗi khi có toán dân nào ra về thì bí mật theo để biết rõ tung tích. Vào ngày thứ ba, một trong những người lính hầu mà Tân phái đi, đã theo bén gót hai người dân đội một mâm lễ vật trở về. Người lính thấy hai người dân đi mãi, đi mãi, bóng chiều đã ngã mà vẫn chưa đến nơi. Cho đến khi tắt ánh mặt trời mới thấy họ đến sát một cái giếng hoang bên cạnh đường. Thốt nhiên họđội cả mâm, lội vùng xuống giếng, rồi thoáng một cái đã biến mất. Vừa kinh ngạc, vừa sợ hãi, người lính vội đi suốt đêm trở về báo lại tình hình cho quan biết.
Sáng hôm sau, Tân hạ lệnh cho một toán lính huyện tới tát cạn cái giếng ấy. Họ ra sức tát suốt cả một ngày. Nhưng thật là lạ lùng! Tát được bao nhiêu nước lại đầy ắp bấy nhiêu. Mấy ngày sau nữa công việc cũng không nhích lên được tí nào. Bọn lính huyện cảm thấy rất chán nản. Một hôm nọ, vào giữa canh khuya, một người lính nằm ngủ, bỗng thức giấc thấy có hai con quỷ đang ngồi vắt vẻo trên cành cây nói chuyện với nhau.
- Nếu chúng nó kéo tới đông thì có tát cạn chăng? - Một con hỏi.
- Nhiều người cũng vô ích thôi. Chỉ có rồng mới có thể tát cạn, ngoài ra không còn cách nào khác. - Con kia đáp.
Người lính bèn đem câu chuyện ấy trình lên quan. Tân nói ngay:
- Chính ta là rồng đây! Ta sẽ thân hành tát cạn giếng.
Nói xong, Tân cưỡi ngựa về đến tận nơi. Sau khi xem xét tình hình, quan xắn áo quần, cầm lấy gàu tát lấy tát để. Quả nhiên chỉ một mình Tân cũng đã làm cho nước giếng dần dần cạn thấu đáy. Nhưng khi giếng cạn hết, cả quan và lính đều không tìm thấy quỷ. Giữa ban ngày, quỷ có phép tàn hình, mắt người không thể tìm thấy được. Nhưng đêm đến, quỷ lại dựa vào tối trời, lẫn lút trốn nấp trong các hang hốc làm cho Tân và lình hầu tìm hết hơi mà mãi không ra. Họ thắp đuốc lên nhưng bóđuốc nào hễ đưa vào cửa hang cũng đều tắt ngấm không thể chụm lên được. Tân sực nhớ một món tặng vật bèn mở túi lấy ra "mặt trời" treo lên treo lên đầu ngọn tre. Lập tức cả một vùng sáng rực như ban ngày. Nhưng vì ban ngày nên quỷ lại tàng hình lọt khỏi con mắt của người. Sau cùng Tân nhớ đến món tặng vật thứ hai. Vừa đưa ra khỏi túi "mặt trăng" tỏa một thứ ánh sáng dịu mát vào khắp mọi nơi. Tân liền mang "mặt trăng" đi dần xuống giếng, tiến vào các hang, các hốc. Dưới ánh sáng trăng, quỷ đành lộ mặt, không thể tàn hình nổi. Cho nên chỉ một chốc, chưa giập miếng bã trầu, quan và lính đã tóm được hai con quỷ. Chính đó là hai con xà tinh quen thói hại người, thường dùng một cái hang ở đáy giếng làm sào huyệt. Trước mặt Tân, hai con quỷ cúi đầu lạy lục xin quan sinh phúc tha cho tính mạng, từ rày không dám làm hại ai nữa. Tân sai lính giải chúng đày thật xa. Từ đấy dân huyện ấy sống rất yên ổn mà làm ăn.
Nguyễn Đức Thắng @ 19:34 12/10/2013
Số lượt xem: 629




Các ý kiến mới nhất